Lịch sử đức Phật Thích Ca Mâu Ni: Phần 02 – Đản sinh

Tác giả: Minh Thiện-Trần Hữu Danh

II- ÐỨC PHẬT ÐẢN SANH

Một vị Phật ra đời là một nhân duyên lớn rất hiếm có, là một niềm vui vô tận cho tất cả muôn loài chúng sanh. Ðức Phật là bậc Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, có trí tuệ và lòng từ bi rộng lớn cùng tột, vì thông cảm nổi khổ triền miên vô bờ bến của chúng sanh mê lầm nên ngài dùng phương tiện thị hiện đản sanh để chỉ dạy và dìu dắt chúng sanh ra khỏi vòng sanh tử luân hồi, đạt đến Niết bàn an lạc thanh-tịnh.

Về phương diện lịch sử, xin trình bày huyền thoại về năm họ của đức Phật là Gotama (Cồ-đàm), Sujata (Thiện-sanh), Okkaka (Cam-giá), Suryavamsa (Nhật-chủng) và Sakya (Thích-ca), sau đó mới nói đến lúc Phật đản sanh.

1- Lai lịch họ Gotama và bộ tộc Sakya[13]

Vào thuở xa xưa, ở thủ đô Saketa, hiện nay là Ayodhya[14], thuộc miền Trung Ấn Độ, có giống dân Aryan. Theo kinh Phật Bản Hạnh (Abhinikramana-sutra), kinh Thập Nhị Du, kinh Ambattha (Digha-nikaya, 3) và kinh Mahavastu (do ngài Buddhaghosa chú giải vào thế kỷ thứ năm sau Tây lịch), thì xưa kia nơi đây có vị vua tên là Maha-Sammata (Ðại-mao-thảo) nhường ngôi cho em, xuất gia theo đại tiên Gotama (Cồ-đàm)[15] tu trong rừng. Ðể người đời không nhận ra mình là vua, ông lấy họ thầy là Gotama làm họ mình. Từ đó người ta gọi thầy ông là Maha-Gotama (Ðại-cồ-đàm) và gọi ông là Culla-Gotama (Tiểu-cồ-đàm).

Hai thầy trò tu trong rừng, ở trong một cái am bên cạnh một vườn mía (Cam-giá, okkaka) lớn. Một hôm có 500 tên cướp đánh cướp tài sản của quan, trong lúc chạy trốn băng qua vườn mía, đánh rơi những đồ cướp được trong vườn. Quan quân theo dấu tìm đến, cho Culla-Gotama (Tiểu-cồ-đàm) là giặc cướp, liền dùng tên bắn chết, máu chảy lênh láng xuống đất. Maha-Gotama (Ðại-cồ-đàm) đang có việc đi xa, dùng thiên nhãn nhìn thấy, buồn bã rơi lệ. Ông liền bay về đến nơi, gom máu trộn lẫn với bùn trên mặt đất, vo thành hai viên lớn bằng nắm tay, đặt lên bàn thờ giữa trời, rồi chú nguyện rằng:

– Cồ-đàm tôi thành tâm cầu nguyện chư thiên biến hai hòn máu này thành người.

Qua 10 tháng, nhờ hấp thụ ánh sáng mặt trời, viên bên trái hóa thành một bé trai, viên bên phải hóa thành một bé gái, đều lấy họ Gotama (Cồ-đàm). Các quan đại thần trong triều nghe tin, rước về cung nuôi dưỡng. Bé trai được đặt tên là Sujata (Thiện-sanh)[16], còn gọi là Okkaka (Cam-giá)[17] hay Suryavamsa (Nhật-chủng)[18]. Bé gái được đặt tên là Subhadda (Thiện-hiền).

Về sau các đại thần lập Okkaka (Thiện-sanh) làm vua hiệu là Ikshvaku (Ý-ma-vương), và Subhadda (Thiện-hiền) làm hoàng hậu, sanh được bốn người con trai tên là Okkamukha, Karakanda, Hatthinika, Sinipura, và năm người con gái là Piya, Suppiya, Ananda, Vijita và Vijitasena. Sau đó hoàng hậu Subhadda (Thiện-hiền) qua đời, vua Ikshvaku (Ý-ma-vương) cưới thêm một công chúa trẻ đẹp phong làm hoàng hậu sanh được một người con trai tên là Jantu.

Vì muốn lập Jantu lên làm vua nên vị hoàng hậu thứ nhì xui giục vua Ikshvaku (Ý-ma-vương) đày bốn người con trai của hoàng hậu Subhadda (Thiện-hiền) ra khỏi nước. Bốn hoàng tử này cùng với năm chị em gái đi về hướng Đông Bắc, đến gần chân núi Himalaya, gặp nhà hiền triết rất giỏi thiên văn địa lý tên Kapila khuyên nên ở lại đây lập nghiệp. Nơi đây lần hồi trở nên phồn thịnh. Vua Ikshvaku (Ý-ma-vương) được tin này, thốt lời khen rằng “Sakya vata bho raja-kumara “, có nghĩa là “Các vị hoàng tử này quả thật là những người có khả năng”. Từ đó bộ tộc của các hoàng tử và vương quốc của họ sáng lập mang tên là Sakya (Thích-ca), có nghĩa là “người có khả năng” hay người anh hùng. Ðể nhớ ơn nhà hiền triết Kapila, các hoàng tử Sakya đặt tên thủ đô xứ Sakya là Kapilavastu. Ít lâu sau, người chị cả là Piya mắc bệnh cùi, vào rừng ở. Trong khi đó vua xứ Kasi ở Benares là Rama cũng mắc bệnh cùi, truyền ngôi cho con trai cả rồi vào sâu trong rừng núi ở, thời may gặp thuốc hết bệnh. Hai người gặp nhau, vua Rama chỉ thuốc cho bà Piya được lành bệnh, hai người ăn ở với nhau, thành lập xứ Koliya, lên làm vua[19].

Ở Kapilavastu, bốn hoàng tử con vua Ikshvaku (Okkaka) không thể lập gia đình với người bản xứ vì không có ai thuộc giai cấp quý tộc (Ksatriya) nên phải sống chung với bốn chị em gái còn lại như vợ chồng[20]. Trong số bốn hoàng tử này có ba người chết, hoàng tử còn lại là Okkamukha (Ni-câu-la[21]) lên làm vua. Sau truyền ngôi cho con là Câu-lô[22]. Câu-lô truyền ngôi cho con là Jayasena (Cù-câu-lô[23]). Jayasena truyền ngôi cho con là Sihahanu (Sư-tử-giáp). Vua Sihahanu (Sư-tử-giáp) sinh được bốn người con trai là: Suddhodana (Tịnh-phạn), Dhotodana (Hộc-phạn), Sukkodana (Bạch-phạn) và Amitodana (Cam-lộ-phạn); và một người con gái là Amita (Cam-lộ vương phi) gả cho vua Suppabuddha (Thiện-giác vương) xứ Koliya. Vua Sihahanu truyền ngôi cho con là Suddhodana. Vua Suddhodana (Tịnh-phạn vương) và hoàng hậu Maha-Maya sinh ra thái tử Siddhattha (Sĩ-đạt-ta) về sau thành Phật hiệu là Sakyamuni (Thích-ca-mâu-ni).

Do đó đức Phật có cả thảy năm họ: Gotama (Cồ-đàm), Okkaka (Cam-giá), Sujata (Thiện-sanh), Suryavamsa (Nhật-chủng) và Sakya (Thích-ca). Nhưng người thời bấy giờ thường dùng tiếng Gotama để chỉ họ của đức Phật, tiếng Sakya để chỉ dòng dõi, bộ tộc hay tên xứ, và tiếng Sakyamuni để chỉ Phật hiệu của ngài.

Phật hiệu Sakyamuni có nghĩa là “năng nhơn tịch mặc “. Sakya là “năng nhơn “, là bậc anh hùng có khả năng hơn người. Muni là “tịch mặc”, tịch tĩnh, vắng lặng, cũng có nghĩa là nhơn từ. Sakyamuni cũng có nghĩa là “bậc anh hùng hoàn toàn”.

Đức Phật đản sinh tại Lumbini, Ấn Độ-Nepal

2- Lúc mới sanh (năm 624 trước Tây lịch)

Vua Suddhodana Gotama và hoàng hậu Maha-Maya là người giàu lòng nhân ái, kính trọng thánh hiền. Ðã gần bốn mươi tuổi mà chưa có con. Vua và hoàng hậu thường lập đàn cúng vái, và mở hội bố thí cho người nghèo khổ để cầu sanh được một hoàng nam hầu sau này nối ngôi vua.

Năm 624[24] trước tây lịch, tại khu lâm viên xinh đẹp Lumbini[25] (Lâm-tỳ-ni, hiện nay thuộc lãnh thổ Nepal), thái-tử Siddhattha Gotama, thuộc dòng dõi bộ tộc Sakya, con vua Suddhodana Gotama, 42 tuổi, và hoàng-hậu Maha-Maya, 44 tuổi, sanh vào ngày trăng tròn tháng Vesak[26] (còn gọi là Visakha hay Vaisakha, tương ứng với tháng tư hay tháng 5 dương lịch).

Trước đó mười tháng, trong khi được vua cho phép giữ tám giới thanh tịnh, vào đêm trăng tròn tháng Asatha (tháng 6 hay tháng 7 dương lịch), tại thành Kapilavastu[27] (Ca-tỳ-la-vệ), hoàng hậu Maya nằm mộng thấy một con voi trắng sáu ngà[28], trong bụng có một hoa sen lớn màu trắng, từ trên trời bay xuống chun vào hông phải của bà, lúc đó bà cảm thấy thân tâm khoái lạc, nhẹ nhàng, sáng chói như ánh trăng rằm. Sáng hôm sau, bà thuật lại giấc chiêm bao kỳ diệu ấy cho vua nghe. Nhà vua cho mời 64 nhà tiên tri Bà-la-môn đến giải mộng; các vị nầy đoán là hoàng hậu đã mang thai và thái tử sắp được sanh ra sẽ là một đại đế hoặc một thánh nhân tiếng tăm lừng lẫy. Từ lúc thọ thai thân tâm hoàng hậu luôn luôn an lạc, thanh tịnh, trí huệ sáng suốt.

Theo phong tục, gần đến ngày sanh, hoàng hậu Maha-Maya đi từ thành Kapilavastu về nhà cha mẹ ruột là quốc vương Suppabuddha và hoàng hậu Amita ở thành Devadaha còn gọi là Ramagama thuộc xứ Koliya (Câu-lợi, hiện nay thuộc lãnh thổ Nepal). Giữa đường phái đoàn tạm nghỉ chân trong khu lâm viên Lumbini, cách Kapilavastu khoảng 30 km về hướng Đông Nam, đang mùa hoa cỏ xinh tươi. Hoàng-hậu đến một hồ nước tắm rửa, thay đổi y phục, rồi đi ngắm cảnh đẹp xung quanh hồ. Thấy đóa hoa Vô-ưu[29] (Asoka) vô cùng xinh đẹp trên cây, bà vói tay phải định hái thì chuyển bụng. Bà vội đứng vịn cành cây. Các tỳ nữ vội chạy đến đứng chăng màn bốn phía. Bỗng cõi đất rung động, hào quang chiếu khắp nơi, rồi thái tử xuất hiện ra đời[30], thân ngài thanh tịnh không bị nhơ nhớp, vẽ mặt an lành không khóc la. Chư thiên biết đấng cứu thế ra đời liền hiện đến tung hoa, tấu nhạc, ca hát chúc mừng. Hoàng hậu và các cung nữ hân hoan chào đón thái tử[31]. Khi mới sanh ra thái từ Siddhattha cũng được tắm rửa lần đầu tiên[32] tại hồ nước nói trên. Hồ nước Puskarini này hiện nay được xây lại theo hình vuông mỗi cạnh 20m, nổi tiếng là linh thiêng, có khả năng trị bệnh cho người xuống tắm. Bên cạnh hồ hiện còn một cây bồ đề to lớn, cành lá sum sê, đã có từ hồi đức Phật còn tại thế. Bên cạnh hồ hiện nay có ngôi đền thờ nữ thần Maha-Maya, trong đó có chỉ vị trí chính xác nơi đức Phật đản sanh, và có hai bức tranh nổi điêu khắc cảnh đức Phật đản sanh, một bức bằng đá và một bức bằng cẩm thạch. Ðến năm 244 trước Tây lịch, vua Asoka có đến đây chiêm bái theo sự hướng dẫn của đạo sư Moggaliputta-Tissa (Mục-kiền-liên-tử Ðế-tu). Vua Asoka có cho dựng gần hồ một trụ đá kỷ niệm. Trên trụ đá có khắc năm hàng gồm 93 chữ bằng tiếng Brahmi như sau:

“Devanapiyena Piyadasina[33] lajina-visativasabhisitena

Atana-agacha mahiyite. Hida Budhe-jate Sakyamuniti

Silavigadabhi cha kalapita silathabhe cha usapapite.

Hida Bhagavam jateti Lumbini-game ubalike kate.

Atha-bhagiye cha.”

(Có nghĩa là: Vua Piyadasina, được các vị thiên thần kính mến và ủng hộ, đích thân đến đảnh lễ chỗ này, sau khi lên ngôi được 20 năm. Ðây là nơi đức Phật Sakyamuni đản sanh. Vua hạ lệnh xây dựng một vách thành bằng đá bao quanh nơi nầy và một trụ đá bên trong để đánh dấu chỗ đức Thế Tôn đản sanh. Vua cho phép dân làng Lumbini từ nay chỉ đóng một phần tám thuế mễ cốc.)

Trong ký sự của ngài Huyền Trang vào thế kỷ thứ bảy có nói: “Ðầu trụ đá có hình con ngựa rất mỹ thuật và trơn láng”. Nhưng hiện nay chưa tìm được di tích tượng con ngựa đặc biệt ấy.

Kinh sách còn nói đến trong lúc đức Phật đản sanh thì đồng thời bảy nhân vật sau đây cũng chào đời: 1- Cây Ðại Bồ-đề, 2- Yasodhara (Da-du-đà-la), 3- Kaludayin (Ca-lưu-đà-di), 4- Channa (Xa-nặc), 5- Kanthaka (ngựa Kiền-trắc), 6- Con voi báu, và 7- Bốn bình châu báu[34].

3- Sau khi sanh

Qua ngày hôm sau, tiên ông Asita Kaladevala (A-tư-đà) do thấy điềm lạ trên trời, biết có thánh nhơn vừa giáng sinh, liền cùng với đệ tử là cháu ruột gọi ông bằng cậu, tên Nalaka[35], từ sườn núi Himalaya (Hi-mã-lạp-sơn)  đến xin phép vua được xem tướng cho Thái tử[36]. Vua Suddhodana (Tịnh-phạn) rất vui vẻ cho bồng Thái tử ra đảnh lễ tiên ông. Nhưng, trước sự kinh ngạc của mọi người, Thái tử bỗng nhiên quay về phía tiên ông và đặt hai chân lên đầu tóc của ông. Ðang ngồi trên ghế, tiên ông Asita vội đứng dậy chắp tay xá chào Thái tử[37] và tiên đoán Thái tử sẽ trở thành bậc vĩ nhân cao quí nhất của nhân loại. Nhà vua cũng làm theo, xá chào thái tử. Trong khi xem tướng cho Thái tử, tiên ông Asita tỏ vẻ rất vui mừng, nhưng khi xem xong thì ông oà lên khóc nức nở. Nhà vua ngạc nhiên hỏi điềm lành dữ thế nào, tại sao ông hết vui mừng lại khóc. Tiên ông Asita sục sùi đáp:

– Tâu Ðại Vương, Thái tử có 32 tướng tốt[38] và 80 vẻ đẹp[39], sau nầy sẽ là vị Chuyển Luân Thánh Vương cai trị bốn châu thiên hạ; nhưng chắc ngài sẽ xuất gia tu hành thành bậc Vô Thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác, là bậc thầy lỗi lạc của khắp các cõi trời và cõi người, giảng dạy pháp mầu để ban vui cứu khổ cho chúng sanh. Rất tiếc nay tôi đã quá già rồi, không còn sống đến lúc đó để được nghe lời ngài chỉ dạy, nên tôi tủi thân tôi khóc.

Lễ quán đảnh được tổ chức vào ngày thứ năm sau khi Thái tử ra đời. Vua Suddhodana triệu tập sáu vị hiền triết Bà-la-môn để chọn tên và tiên đoán tương lai cho con. Tên được chọn là Siddhattha (Siddartha, Sarvarthasiddha) có nghĩa là người thành đạt nguyện vọng. Sau khi bàn thảo về tương lai của thái tử, năm vị đưa lên hai ngón tay, tuyên bố:

– Muôn tâu Ðại Vương, thái-tử sẽ trở thành bậc Chuyển Luân Thánh Vương (Cakravartin), vị hoàng đế vĩ đại nhất thế gian nếu ngài muốn trị vì thiên hạ. Nếu xuất gia tu hành, ngài sẽ thành bậc Chánh Ðẳng Chánh Giác (Samma-sambuddha) cứu nhân loại ra khỏi cảnh tối tăm đau-khổ. Nhưng vị trẻ tuổi nhất tên Kondanna (Kiều-trần-như)[40] chỉ đưa lên một ngón tay và nói:

– Tâu Ðại Vương, sau nầy, sau khi nhìn thấy một người già, một người bệnh, một xác chết và một tu sĩ, thái tử sẽ xuất gia đi tìm chân lý và sẽ trở thành một vị Phật, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Sau khi sanh Thái tử được bảy ngày thì hoàng hậu Maya từ trần[41], vãng sanh về cung trời Ðao-lợi[42] (Tavatimsa). Thái tử được giao cho người dì ruột cũng là thứ hậu trong triều là bà Pajapati Gotami[43] (Ba-xà-ba-đề Kiều-đàm-di), chăm sóc. Do các lời tiên đoán của các nhà tiên tri nên vua Suddhodana tìm đủ mọi cách cho Thái tử Siddhattha hưởng đầy đủ lạc thú trong hoàng cung, không bao giờ nhìn thấy các cảnh khổ đau, bệnh hoạn, già chết ở đời. Khi thái tử được sáu tuổi, vua Suddhodana cho mời các vị thầy nổi tiếng vào triều dạy học, mong đào tạo thái-tử thành một vị vua tương lai có đầy đủ khả năng và đức hạnh để kế nghiệp ngài.

* Chú thích:

[13] Xem The Life of Buddha as Legend and History của Edward J. Thomas, trang 1-15; Từ Ðiển Phật Học Huệ Quang, chữ Cam-Giá Vương; Mahavastu; Phật Sở Hành Tán 1; Trường A-Hàm 13; Chúng Hứa Ma-ha-đế; Ðại Lâu Thán; Luật Ngũ Phần 15.

[14] Ayodhya còn gọi là Saketa, hiện nay là tên thành phố nằm giữa đường từ thành phố Lucknow đến thành phố Gorakhpur.

[15] Xem Từ điển Phật Học Huệ Quang; Kinh Ðại Nhật 5; Kinh Ðại Khổng Tước Chú Vương hạ; Thích Ca Phả 1; Thai Tạng Giới Thất Tập hạ.

[16] Thiện sanh: nhờ có căn lành nên sanh ra.

[17] Cam giá: sanh ra trong vườn mía. Cam giá là cây mía.

[18] Nhật chủng: nhờ hấp thụ ánh sáng mặt trời nên sanh ra.

[19] Xem kinh Dasaratha-Jataka; The Life of Buddha as Legend and History, trang 9-11.

[20] Xem The Life of Buddha as Legend and History, trang 8; Mahavastu.

[21] Xem Từ Ðiển Phật Học Huệ Quang, chữ Cam-Giá Vương.

[22] Xem Từ Ðiển Phật Học Huệ Quang, chữ Cam-Giá Vương.

[23] Xem Từ Ðiển Phật Học Huệ Quang, chữ Cam-Giá Vương.

[24] Tổng Hội Phật-giáo Thế-giới (World Fellowship of Buddhists), năm 1950 tại Colombo, xác nhận đức Phật nhập niết-bàn năm 544 trước tây lịch, lúc ngài được 80 tuổi. Từ đó suy ra năm sanh của đức Phật là 624 trước tây lịch. Ðến năm -623 Phật được 1 tuổi. Muốn tính năm Phật lịch thì lấy năm dương lịch cộng thêm 544. Ví dụ: dương lịch năm 2000 tương đương với Phật lịch năm 2544.

[25] Lumbini hiện nay thuộc xứ Nepal, cách thành phố Sonauli ở biên giới 27 km.

[26] Nhằm ngày rằm tháng tư âm lịch năm Bính Thân. Có tài liệu cho rằng lúc đức Phật đản sanh, nước Trung Hoa ở vào thời đại nhà Chu, vua Chiêu Vương năm thứ 24, tức năm Giáp Dần. Quan Thái sử là Tô Do tâu rằng: “Tâu Bệ hạ, Tây phương có bậc đại thánh ra đời, sau đây khoảng một ngàn năm, giáo lý của ngài sẽ truyền bá đến xứ ta.” Nhà vua cho người khắc vào bia đá chôn ở Nam Giao làm tin. (Xem Sự tích Phật giáng thế, dịch giả Hòa thượng Thích Trung Quán, trang 18). Ghi chú: năm Giáp Dần là năm -667, không đúng với nhận định cùa Tổng hội Phật giáo thế giới.

[27] Theo tài liệu của Trung Tâm Du Lịch xứ Nepal năm 2003 thì Kapilavastu hiện nay là làng Tilaurakot, thuộc xứ Nepal, cách Lumbini 30 km về hướng Tây Bắc. Nhưng theo tài liệu của Nha du lịch Ấn xuất bản năm 1999 thì Kapilavastu hiện nay là làng Piprahwa, thuộc xứ Ấn, cách thành phố Sonauli 66 km về hướng Tây Nam, và cách thành phố Siddharthanaga 18 km về hướng đông. Theo quyển The Buddha And His Teachings của Narada thì Kapilavastu xưa kia nay là Bhuila hay Bhulya thuộc quận Basti, cách Bengal 5km và nằm vào hướng Tây Bắc nhà ga xe lửa Babuan.

[28] Xem Majjhima-nikaya 123; Digha-nikaya 14. Con voi trắng tượng trưng cho một vị Bồ tát, sáu ngà tượng trưng cho lục độ, hoa sen lớn trong bụng voi tượng trưng cho tâm đại bi thanh tịnh.

[29] Có kinh ghi là hoa Ba-la-xoa hay Song-long-thọ, tiếng Phạn là Sala, tên khoa học là Shorea robusta. Cả 2 loại cây Vô-ưu (Asoka) và Ba-la-xoa (Sala) đều mọc rất nhiều tại Ấn Độ và hoa của cả hai đều thường được dùng để cúng kiến.

[30] Hoàng hậu Maya sanh thái tử trong lúc đang đứng vịn cành cây.

[31] Theo kinh Trường A-Hàm, quyển 1, phần 1 (Sơ đại bản duyên): Khi hoàng hậu đưa tay phải lên định hái hoa Vô-ưu thì chư thiên nhìn thấy thái-tử từ hông phải xuất hiện bước xuống đất, thân ngài tinh khiết thanh tịnh, tức thì cõi đất rung động, hào quang chiếu khắp nơi. Ðức Phật hài đồng không cần người đỡ, bước đi bảy bước về hướng đông (có kinh nói là hướng Bắc), nhìn khắp mười phương, rồi đưa tay lên trời nói rằng: “Trên trời dưới thế chỉ có Ta là tôn quý, Ta sẽ cứu độ chúng sanh khỏi vòng sinh già bệnh chết”. Chư thiên vui mừng biết đấng cứu thế vừa ra đời liền kêu gọi nhau đến chiêm bái, tấu nhạc, rải hoa cúng dường. Ðọc giả nên lưu ý đây là cái thấy của chư thiên, không phải cái thấy của người thế gian: Chúng sanh tùy theo nhãn căn và nghiệp lực mà nhìn thấy cảnh vật khác nhau. Chư thiên có thiên nhãn nên nhìn thấy thần thức đức Phật thị hiện đản sanh từ hông phải bước xuống đất rồi bước đi 7 bước… Nhưng người thường, với cặp mắt phàm tục, chỉ nhìn thấy báo thân đức Phật thị hiện đản sanh như một em bé thông thường, trong hoàn cảnh hoàn toàn tốt đẹp.

[32] Theo kinh Trường A-hàm, quyển 1, phần 1 (Sơ đại bản duyên): Khi sanh do hông bên mặt của mẹ mà ra, tức thì có hai suối nước, một nóng một lạnh, tự nhiên ở dưới đất tuông ra, để cúng dường tắm rửa cho Bồ tát. Cũng có tục truyền rằng lúc đức Phật vừa mới sanh có hai con rồng phun ra một vòi nước nóng và một vòi nước lạnh để tắm Phật, làm thành hồ nước Puskarini còn đến ngày nay.

[33] Piyadasina là vương hiệu của vua Asoka, trị vì từ năm -264 đến năm -227. Vua đến chiêm bái thánh địa Lumbini vào năm -244, sau cuộc Kiết tập Kinh Ðiển lần thứ 3 tại Pataliputta.

[34] Theo quyển Buddha and the Gospel of Buddhism, trang 5; quyển The Life of Buddha as Legend and History, trang 33.

[35] Nalaka (hay Naradatta) lúc bấy giờ được 10 tuổi, về sau xuất gia theo Phật đắc quả A-la-hán, có tên khác là Maha-Kaccana (Ma-ha Ca-Chiên-Diên).

[36] Xem Sutta-nipata / Maha-vagga / Nalaka-sutta.

[37] Xem quyển Buddhism in Translation của Waren, trang 49, và Chú Giải Túc-Sanh-Truyện.

[38] Ba mươi hai tướng tốt (lakkhana) : 1- Bàn chân bằng phẳng đầy đặn ; 2- Dưới bàn chân có dấu chỉ như bánh xe, rõ ràng tươi thắm ; 3- Có màn lưới mỏng giữa kẻ ngón tay ngón chân, như chân ngỗng chúa ; 4- Tay chân mềm mại như áo trời ; 5- Ngón tay ngón chân thon dài ; 6- Gót chân đầy đặn ; 7- Bụng như bụng nai, trên dưới thẳng thắn ; 8- Các khớp xương móc lấy nhau chắc chắn như hai khoen xích ; 9- Nam căn ẩn kín vào trong túi da ; 10- Ðứng thẳng tay duỗi dài quá gối ; 11- Mỗi lỗ chân lông chỉ có một lông sắc lưu ly xanh biếc xoay về phía hữu ; 12- Lông xoay phía hữu, sắc xanh biếc rất đẹp ; 13- Thân màu vàng ròng ; 14- Da thịt mịn màng không dính bụi nhơ ; 15- Hai vai ngang bằng, đầy đặn, tròn đẹp ; 16- Giữa ngực có chữ vạn ; 17- Thân cao gấp đôi người thường ; 18- Bảy chỗ (thất khiếu) trong người đầy đặn, không sâu hoáy như người thường ; 19- Thân cao rộng như cây ni-câu-đà ; 20- Hai má như sư tử ; 21- Ngực vuông đầy như ngực sư tử ; 22- Có 40 cái răng ; 23- Răng ngang bằng tề chỉnh ; 24- Răng khít nhau không hở ; 25- Răng trắng trong ; 26- Yết hầu thanh sạch, ăn thức gì cũng thấy ngon ; 27- Lưỡi rộng dài có thể liếm tới mép tai ; 28- Tiếng nói trong trẻo vang xa ; 29- Mắt màu xanh biếc ; 30- Mắt như mắt trâu chúa, mí trên mí dưới cùng nháy một lần ; 31- Có lông trắng giữa hai chân mày, mịn thắm, kéo ra dài một tầm, thả ra thì xoắn lại về phía hữu ; 32- Trên đỉnh đầu có bứu thịt nổi cao. (Xem kinh Trường A-hàm, quyển 1, phần 1; kinh Ðại-Bát  Niết-Bàn, phẩm 23 Sư tử hống bồ-tát; Majjhima-nikaya / Brahmana-vagga / Brahmayu-sutta).

[39] Tám mươi vẻ đẹp (anuvyanjana) là các điểm phụ cho 32 tướng tốt. Không kể ra đây vì quá dài.

[40] Ông Kondanna là một trong 5 người theo Phật tu khổ hạnh và được nghe thời pháp đầu tiên của Phật tại Lộc-Uyển, Sarnath.

[41] Theo kinh Trường A-hàm, phẩm Sơ Ðại Bản Duyên, và kinh Lalitavistara thì đó là thông lệ của chư Phật đản sanh.

[42] Theo The Life of Buddha as Legend and History, trang 31, thì hoàng hậu Maya sanh về cung trời Ðâu-suất (Tusita).

[43] Bà Pajapati tự mình chăm sóc Siddhattha như con ruột. Qua năm sau bà sanh hoàng tử Nanda.

[44] Xem Ðại Chánh Tân Tu Ðại Tạng Kinh 187, 190, 192; Lalitavistara, XI.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *