Rèn luyện Tâm thức

Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14

Bài kệ 2:

“Trong mọi hành động, xin tự mình soi xét,
Và ngay khi phiền não vừa khởi sinh  
Gây hiểm nguy cho người khác và chính mình
Nguyện đối diện và phá tan mạnh mẽ.”

Bài Kệ 3:

“Mọi hành động, xin tự mình soi xét,
Và ngay khi phiền não vừa khởi sinh
Gây hiểm nguy cho người khác & chính mình 
Nguyện đối diện và phá tan mạnh mẽ.”

Câu này thực sự là tâm điểm của những gì có thể được gọi là tinh túy của sự thực hành Giáo pháp của Đức Phật. Khi chúng ta nói về Pháp trong bối cảnh của Giáo lý Phật giáo, chúng ta đang nói đến Niết bàn, hoặc giải thoát khỏi khổ đau. Giải thoát khỏi đau khổ, Niết bàn, hoặc là Đọan diệt  chính là Chánh Pháp. Có rất nhiều mức độ đoạn diệt – ví dụ như kiềm chế hành động giết chóc hoặc tàn sát; có thể là một hình thức của Pháp. Nhưng điều này không thể được gọi là Phật pháp một cách đặc trưng được; bởi vì kiềm chế giết người là điều mà thậm chí một người không theo tôn giáo cũng có thể chấp nhận như là kết quả của việc tuân theo pháp luật. Bản chất tinh túy của Pháp trong truyền thống Phật giáo là trạng thái giải thoát khỏi khổ đau và phiền não (tiếng Phạn là: Kleha, tiếng Tạng là: Nyonmong) nằm dưới gốc rễ của khổ đau. Câu này chỉ ra cách đối phó với những phiền não hoặc những tư tưởng và cảm xúc quấy rối. Người ta có thể nói rằng đối với một hành giả Phật giáo, kẻ thù thực sự chính là kẻ thù bên trong – những cảm xúc phiền não và những trạng thái tinh thần phiền não này. Đó là những phiền não cảm xúc và tinh thần gây ra đau đớn và khổ não. Nhiệm vụ thực sự của một hành giả thực hành Phật pháp là đánh bại kẻ thù bên trong này. Vì áp dụng sự đối trị giải trừ dành cho những phiền não về cảm xúc và tinh thần nằm ở trọng tâm của sự thực hành Pháp, và theo một nghĩa nền tảng thì bài Kệ thứ ba này cho thấy điều rất quan trọng là phải trau giồi sự chánh niệm ngay từ lúc ban đầu. Nếu không, nếu bạn để cho những suy nghĩ và những cảm xúc tiêu cực phát sinh bên trong bạn mà không có bất kỳ sự kiềm chế nào, không có sự chú ý nào về sự tiêu cực của nó, thì cũng giống như bạn đang trao cho nó quyền tự do thống trị. Chúng có thể phát triển đến mức mà chỉ đơn giản là không có cách nào để chống lại. Tuy nhiên, nếu bạn phát triển chánh niệm về sự phiền não này, thì ngay khi chúng xuất hiện, bạn sẽ có thể dập tắt chúng ngay khi chúng vừa phát sinh. Bạn sẽ không cho chúng cơ hội hoặc không gian để phát triển thành những cảm xúc tình cảm tiêu cực toàn diện. Phương pháp mà câu thứ ba này cho thấy thì chúng ta nên áp dụng cách đối trị là theo tôi ở mức độ của sự biểu lộ và cảm nhận về cảm xúc. Thay vì nắm bắt nguồn gốc của cảm xúc nói chung, những gì đang được đề xuất cho việc áp dụng cách đối trị phù hợp với những cảm xúc và ý nghĩ tiêu cực cụ thể. Ví dụ, để chống lại sự giận dữ, bạn nên trau dồi tình yêu thương và lòng từ bi.

Để chống lại sự luyến ái chặt chẽ với một đối tượng, bạn nên trau dồi những suy nghĩ về sự ô uế của vật thể đó, bản chất về sự nhàm chán của nó, v.v … Để chống lại sự kiêu ngạo hoặc tự cao của mình, bạn cần phải suy nghĩ về những khiếm khuyết trong bạn để có thể tạo ra một cảm giác khiêm tốn. Ví dụ, bạn có thể nghĩ về tất cả những điều trên thế giới mà bạn hoàn toàn không biết gì về chúng cả. Lấy dấu hiệu ngôn ngữ như vị thông dịch viên ở trước mặt tôi đây. Khi tôi nhìn cô ấy và nhìn thấy những cử chỉ phức tạp mà cô ấy thực hiện để phiên dịch, tôi chẳng biết chút manh mối gì về chuyện đang diễn ra, và xem đó thật sự là một kinh nghiệm về sự khiêm tốn. Từ kinh nghiệm cá nhân của riêng tôi, bất cứ khi nào tôi có chút cảm giác náo nức về sự tự kiêu, tôi nghĩ về những chiếc máy tính. Nó thực sự làm cho tôi lắng đọng bình thản trở lại!

Bài Kệ 4:

“Thấy chúng sanh với tính tình ngang ngược
Bị nén đè bởi phiền trược khổ đau
Nguyện trân giữ như ngọc châu hiếm thấy
Như tìm ra một kho báu gia tài.”

Câu này đề cập đến trường hợp đặc biệt liên quan đến những người bị bỏ rơi bên lề xã hội, có lẽ vì hành vi của họ, sự xuất hiện của họ, sự nghèo đói của họ, hoặc cũng có thể là do bệnh tật. Bất cứ ai thực hành Bồ Đề Tâm đều cũng phải chăm sóc đặc biệt cho những người này; như thể khi gặp họ, bạn đã tìm thấy một kho báu thật sự. Thay vì cảm thấy bị chùn bước, một hành giả thật sự về các hạnh nguyện vị tha này, nên tham gia và thực hành sự thử thách có liên quan đến tâm vị tha. Trên thực tế, cách mà chúng ta tương tác với những người thuộc loại này có thể tạo ra một động lực lớn cho sự thực hành tâm linh của chúng ta.

Trong bối cảnh này, tôi muốn đưa ra một ví dụ điển hình của nhiều anh chị em Kitô giáo đã tham gia vào các hoạt động nhân đạo và chăm sóc đặc biệt là hướng tới các thành viên bên lề xã hội. Một ví dụ như thế trong thời đại chúng ta là Mẹ quá cố Têrêsa – người đã cống hiến cả đời mình để chăm sóc cho những người thiếu thốn. Bà đã minh họa cho lý tưởng được mô tả trong bài Kệ này.

Chính vì điểm quan trọng này cho nên khi tôi gặp các thành viên của các trung tâm Phật giáo ở nhiều nơi trên thế giới, tôi thường chỉ ra rằng, nếu như một trung tâm Phật giáo có các chương trình giảng dạy hay thiền định thôi thì sẽ không đủ. Tất nhiên, có rất nhiều trung tâm Phật giáo rất ấn tượng, và một số trung tâm nhập thất, nơi các nhà sư phương Tây đã được đào tạo rất tốt để có thể chơi clarinet theo cách Tây Tạng truyền thống! Nhưng tôi cũng nhấn mạnh với họ về nhu cầu nên đưa khía cạnh xã hội và chăm sóc vào chương trình hoạt động của họ, để các hạnh nguyện tu tập được trình bày trong giáo lý của Phật giáo có thể đóng góp vào cho xã hội.

Tôi vui mừng nói rằng, tôi đã nghe nói rằng một số trung tâm Phật giáo đang bắt đầu áp dụng các nguyên tắc Phật giáo vào xã hội. Ví dụ, tôi tin rằng ở Úc có những trung tâm Phật giáo đang thiết lập các nhà dưỡng lão và giúp đỡ những người sắp chết, và chăm sóc bệnh nhân AIDS. Tôi cũng đã nghe nói về các trung tâm Phật giáo tham gia vào một số hình thức giáo dục tâm linh trong các nhà tù, nơi mà họ có thể nói chuyện và tư vấn. Tôi nghĩ rằng đây là những tấm gương tuyệt vời. Dĩ nhiên, điều đáng tiếc là khi những người như vậy, đặc biệt là tù nhân, cảm thấy bị xã hội bỏ rơi; không chỉ là đau đớn cho họ – mà còn từ một tầm nhìn rộng hơn – đó là một sự mất mát cho xã hội. Chúng ta không tạo cơ hội cho những người này đóng góp vào việc xây dựng xã hội trong khi họ thực sự có tiềm năng để làm điều đó. Do vậy, tôi nghĩ rằng điều quan trọng là toàn xã hội không nên từ chối những cá nhân như vậy, mà phải nắm lấy họ và thừa nhận tiềm năng đóng góp của họ. Bằng cách này, họ sẽ cảm thấy mình có một vị trí trong xã hội, và sẽ bắt đầu nghĩ rằng họ có thể có một cái gì đó để cống hiến.

Bài kệ 5 và 6:

“Khi người khác, với bản tâm ganh tỵ
Lạm dụng con, vu khống và miệt khinh,
Con nguyện xin nhận thua thiệt về mình
Hiến dâng người phần quang vinh chiến thắng.”

Điểm quan trọng được tạo ra ở đây là, khi những người khác khiêu khích bạn, có lẽ không phải vì lý do gì hoặc không vì sự bất công gì; thay vì phản ứng một cách tiêu cực – thì một hành giả thực sự của lòng vị tha – bạn sẽ có thể khoan dung đối với họ. Bạn nên duy trì sự bình thản, không xao xuyến, không lo sợ, và cảm thông với cách cư xử này của họ. Trong bài Kệ tiếp theo, chúng ta học được rằng, không những chúng ta nên khoan dung với những người như vậy, mà trên thực tế chúng ta nên coi họ như những bậc thầy tâm linh của mình. Bài kệ viết:

“Khi một người con đã từng giúp đỡ,
Hoặc người mà con hy vọng lớn lao,
Ngược đãi con gây tổn thương tàn bạo,
Nguyện xem như bậc Hướng Đạo – tôn Sư.”

Trong “Nhập Bồ Tát Hạnh” của Ngài Tịch Thiên, có một sự thảo luận rộng rãi về cách chúng ta có thể phát triển loại thái độ này, và làm thế nào để chúng ta có thể học cách nhìn thấy những người gây tổn hại tồi tệ cho chúng ta như những đối tượng để ta học hỏi về mặt tinh thần. Và trong chương thứ ba của “Nhập Trung Quán Luận” của Ngài Nguyệt Xứng, có những giáo lý sâu sắc và đầy cảm hứng về việc trau giồi tính kiên nhẫn và lòng khoan dung.

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *