Ý nghĩa xuất gia của Thái tử Sĩ Đạt Ta (Siddhartha)

Tác giả: HT. Thích Trí Quảng

Chúng ta triển khai sâu hơn về ý nghĩa xuất gia của Đức Phật để có thể nhận rõ tầm quan trọng của xuất gia, giúp chúng ta sống đúng như Phật dạy.

Khi chưa xuất gia, Phật là thái tử sống trong cảnh vàng son nhung lụa. Có ba tòa lâu đài tiện nghi để Ngài sống thoải mái, không bị chi phối bởi thời tiết khắc nghiệt của Ấn Độ và còn có biết bao người hầu hạ, đàn ca múa hát cho Ngài vui, tất nhiên còn có nhiều người bảo vệ cung điện, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho Ngài. Mọi người đều bảo rằng đây là đời sống đế vương cao sang tột đỉnh mà ai cũng ham muốn.

Nhưng Thái tử Sĩ Đạt Ta khác người thế gian, vì Ngài có cái nhìn sâu sắc về cuộc sống con người và Ngài cũng không ham muốn hưởng thụ đời sống vật chất giàu sang như thế. Nói cách khác, Sĩ Đạt Ta có tự thọ dụng bên trong, hay Ngài là bậc Bồ-tát hiện thân vào loài người để cứu độ mọi người thoát khổ.

Tiên A Tư Đà thấy con người thật, con người tinh thần của Sĩ Đạt Ta là quan trọng nhất, gọi là đầy đủ căn lành. Thật vậy, Thái tử Sĩ Đạt Ta có đầy đủ phước đức, trí tuệ trong thân người, nghĩa là Ngài có sức khỏe rất tốt, ngoại hình khiến người cảm mến, thông minh tuyệt đỉnh. Thân mỗi người không giống nhau, vì phước báo, đức hạnh và khả năng hiểu biết không giống nhau.

Mọi người ước mơ được như Ngài, nhưng thái tử thấy không giống chúng ta. Ngài thấy bị ràng buộc trong ngôi vị thái tử, trong ba tòa lâu đài, trong sự hầu hạ của những người bảo vệ, không được tự do đi lại.

Thí dụ dễ thấy như Tổng thống Mỹ có quyền lực nhất, sống cao sang nhất, nhưng lúc nào cũng phải có người bảo vệ, phải sử dụng xe súng bắn không được. Khi ông sang Việt Nam, một máy bay để Tổng thống đi riêng, mấy chiếc phản lực hộ tống trước và sau. Còn có rất nhiều an ninh Mỹ kết hợp với an ninh của thành phố ta để bảo vệ mạng sống của ông. Đó là thực tế cho thấy rõ càng cao sang, danh vọng thì càng lệ thuộc bên ngoài.

Nếu chúng ta gặp họ, sẽ được nghe nói rằng họ không có thì giờ ăn ngủ, không có thì giờ sống cho riêng mình, cả một sự ràng buộc bởi xã hội, địa vị, tình cảm, gia đình. Sự ràng buộc chặt chẽ như vậy được Thái tử Sĩ Đạt Ta gọi là ngục vàng, không có tự do gì cả. Muốn hiểu biết sinh hoạt bên ngoài, đâu có điều kiện. Tất cả mọi việc đều bị bưng bít. Điều mà Ngài muốn biết thì không dạy. Điều mà Ngài không muốn biết thì nhồi nhét cho Ngài, như dạy Ngài cách cai trị dân, cách huấn luyện binh sĩ để xâm chiếm nước khác… Với tư cách là một vị thái tử sẽ lãnh đạo đất nước, Ngài phải học những thứ này, dù không muốn.

Thái tử Tất Đạt Đa xuất gia là một dấu mốc mở ra con đường tới giác ngộ, giải thoát, mang ánh sáng trí tuệ đến cho muôn loài chúng sinh

Trong khi Sĩ Đạt Ta khao khát biết sự thật của con người là chân lý. Vì vậy, ý chí xuất gia của Ngài là từ bỏ đời sống thế tục để được tự do thực sự, không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì, gọi là xuất thế tục gia, xuất phiền não gia và xuất tam giới gia, ra khỏi sinh tử luân hồi là mục tiêu lớn.

Người xuất gia thực sự, dù ở hoàn cảnh nào cũng giải thoát. Người xuất gia vì tham vọng thì hết khổ này đến khổ khác, vì ham muốn của họ chẳng ai cho. Tôi có người bạn tu từ nhỏ tới nay, tôi 80 tuổi, gặp lại, họ than chưa tìm được mảnh đất cắm dùi, đi đâu cũng bị đuổi, bị giải tỏa; vì muốn bám trụ thì bị người đẩy đi, như vậy không phải người xuất gia.
Sĩ Đạt Ta xuất gia buông bỏ hết. Vì những gì con người ham muốn không bao giờ tới, những gì chúng ta sợ sẽ tới; sợ khổ thì khổ tới, muốn an lạc thì an lạc tránh xa. Phải giác ngộ ý này.

Sĩ Đạt Ta bỏ cung điện đi tìm chân lý, cảm thấy cuộc sống từ đây sung sướng hơn, vì bỏ chuỗi anh lạc, quần áo sang trọng đổi áo rách của Sa-môn thì ở đâu cũng được an ổn. Còn hồi nãy có nhiều tiền, phải mắc kẹt với tiền, nếu không bảo quản, tiền bị mất.

Sĩ Đạt Ta bỏ tất cả, chỉ có một bình bát không có giá trị và bộ đồ rách không ai dùng. Tôi đi tu áp dụng điều này trong cuộc sống, cảm thấy an lành. Tôi có bạn đồng tu được Phật tử thương, mua cho bộ đồ vải quý, giặt phơi phải ngồi coi chừng, sợ mất, thiệt là khổ. Thầy này giữ của như vậy, nhưng mấy chục năm sau gặp lại, thầy cũng không có gì hơn, cuộc đời không đi lên được, vì đạo đức không phát triển, con người lần đi xuống thôi.

Vì vậy, người xuất gia rồi hoàn tục là điều bình thường. Ý này được anh Võ Đình Cường diễn tả rằng những kẻ thấp chí bạc tài cứ ra vào sông bến cũ. Ở xã hội thấy khổ, thấy tu sướng, nên đi tu. Khi tu lại thấy khổ thì hoàn tục. Cứ như vậy mà ra vô sinh tử, xa hơn là ra vô sinh tử trong tam giới.
Nhưng chúng ta xuất gia muốn phát chí xung thiên, tức vượt lên để làm Tổ, làm Phật. Còn thấp chí bạc tài cứ quanh quẩn với miếng cơm, manh áo… Đó là điều quan trọng tôi muốn nhắc nhở anh em.

Đi tu rồi, ta không còn nghĩ đến phú quý, lợi danh, cơm ăn, áo mặc, nên đầu óc chúng ta có điều kiện suy nghĩ những việc cao hơn. Đầu tiên, Sĩ Đạt Ta nghĩ gì.

Sống trong hoàng cung, Ngài bị nhồi nhét lý thuyết quá nhiều, nên Ngài nghĩ rằng phải đi tìm thực tế, tức tìm học với những người có cách tu đạt kết quả tốt đẹp để thực tập theo. Và người đầu tiên mà Ngài gặp là đạo sĩ Kamala. Ông chỉ nói một ý mà Ngài nhận ra và thực tập có kết quả ngay, đó là Ly sanh hỷ lạc.

Thật vậy, xuất gia thực sự, chúng ta phải rời khỏi đời sống vật chất và đời sống tình cảm, không bị xã hội, thiên nhiên chi phối, gọi là Ly sanh, chúng ta mới thực sự có đời sống tâm linh. Người tu không có đời sống tâm linh là tu sĩ giả. Ý này được Đức Phật nhắc rằng người tu phải có ốc đảo tâm linh để sống. Vì vậy, các thầy phải chứng được Ly sanh hỷ lạc, bước vào quả Dự lưu mới giải thoát. Còn hiểu biết thế gian không dùng được, vì càng ràng buộc chúng ta nhiều hơn.

Đầu tiên, ta từ bỏ tình cảm thế gian. Tu mà giữ điện thoại liên lạc với gia đình, bạn bè, hoặc dùng thì giờ tán gẫu thì người này sẽ đi về đâu. Người càng lệ thuộc với bên ngoài thì càng dễ sa đọa.
Theo kinh nghiệm của tôi, muốn tuệ sanh, phải cắt bỏ hoàn toàn tình cảm thế gian, mới tập trung tư tưởng được. Từ bỏ việc vướng mắc tình cảm để tư tưởng tập trung việc nào, thì huệ bừng sáng, thấy ngay giải đáp đúng đắn. Phật dạy rõ điều này rằng “Chế tâm nhứt xứ, vô sự bất biện”.

Đức Phật có biện tài vô ngại, vì Ngài có lực tập trung cao độ. Những việc không cần thì không biết, nhưng khi cần là biết tất cả, đó là trí tuệ Sa-môn, là con đường mà chúng ta chọn theo Phật. Còn biết nhiều, nhưng nói khiến cho người ghét, biết nhiều như vậy chẳng ích lợi gì. Trên bước đường tu, khi có việc cần giải quyết, chúng ta tập trung tư tưởng, thấy rõ đáp án là thấy bằng trực giác rất quan trọng.

Hòa thượng Trí Tịnh dạy chúng ta không nghe, không biết việc bên ngoài, để tập trung tư tưởng và bắt đầu quán sát lời Phật dạy để thấy được nghĩa lý bên trong. Làm như vậy, các thầy cô mới kết hợp được giáo lý Nguyên thủy và Đại thừa, mới làm giảng sư được. Nếu không, rơi vào cục bộ, nói đúng lý thuyết, nhưng người ghét.

Tập trung và quán sát lời kinh Nguyên thủy và trí tuệ sáng tỏ là Đại thừa. Phải khẳng định rằng tư tưởng Đại thừa phát xuất từ kinh Nguyên thủy. Nhưng chấp vào Nguyên thủy, cho rằng chỉ có Nguyên thủy đúng nhất là rơi vào cục bộ. Lời dạy của Phật là gốc Nguyên thủy, nhưng cộng thêm Thiền định công phu, tức có tu chứng sẽ hiểu khác, hiểu sâu hơn.
Theo GNO.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.